Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Giá trị mang tầm thời đại
  • Cập nhật: 16/05/2022
  • Lượt xem: 1493 lượt xem

Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc và thời đại về một sự nghiệp, một di sản vẻ vang với một cuộc đời luôn tôn chỉ về phẩm chất và phong cách nêu gương: "Tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, vì độc lập của dân tộc và vì hạnh phúc của đồng bào. Điều đó được thể hiện qua cuộc đời phong phú, trải nghiệm và không ngừng vươn tới điều tốt đẹp, chân lý tiến bộ trong lời nói và hành động, thông qua đạo đức, lối sống, việc làm và phong cách nêu gương của Người.


Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phong cách nêu gương của Người như là một lẽ tự nhiên, thấm nhuần trong tư duy và hành động, là nét văn hóa điển hình trong lãnh đạo và quản lý, trong giao tiếp và ứng xử của Người. Có thể khái quát trên những nét chính sau:

Nêu gương về mục đích và lý tưởng sống. Người tâm niệm về người phương Đông luôn coi trọng tình cảm và đạo đức, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính vì thế, trong suốt cuộc đời mình, Người luôn tự trau dồi, học hỏi, tự rèn luyện để phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và vì đồng bào. Người chỉ dạy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là “chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu cho cấp dưới, cho nhân dân và cho thế hệ trẻ noi theo. Đó là gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau. Người luôn nhắn nhủ thế hệ trẻ tương lai của dân tộc rằng “Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; “Trên vì nước, dưới vì nhà. Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”. Tuổi trẻ phải không ngừng được vun đắp lý tưởng, hoài bão để tiếp nối sự nghiệp vẻ vang mà cha ông đã để lại.

Nêu gương về thái độ khiêm tốn, cầu thị, sâu sát và rút kinh nghiệm thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và chế độ một tấm gương mẫu mực và ngời sáng về tinh thần cầu thị, khiêm tốn, nhã nhặn, đặc biệt là thái độ học hỏi, cầu thị với nhân dân và với cấp dưới của mình. Người đặt vấn đề cho cán bộ, đảng viên phải là những người “đi trước thiên hạ, vui sau đồng bào”; phải thực hiện tác phong “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, phải cẩn thận mà nhanh nhẹn kịp thời, làm đến nơi đến chốn. “Sau mỗi việc cần phải rút kinh nghiệm... Mỗi cán bộ, mỗi địa phương sẽ học những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới”. Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm căn cứ để công việc luôn đúng đắn và phù hợp, đồng thời phải coi trọng tổng kết thực tiễn.

Nêu gương thực hành đoàn kết, tôn trọng nhân dân, nêu cao tinh thần đại nghĩa trên cơ sở bình đẳng, hướng tới đồng thuận, nêu cao đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng để đồng hành, đưa sự nghiệp cách mạng vượt qua mọi gian nan thử thách, hy sinh đi tới thắng lợi. Trong thực hành chức trách tương tác đối với nhân dân thì phải biết yêu dân, thương dân, kính dân, trọng dân, gần dân gắn liền với tinh thần phục vụ dân để mỗi người dù là cán bộ hay người dân thường thì trên dưới, trước sau, trong ngoài đều phải có ý thức tôn trọng nhau để làm việc hiệu quả và bền lâu.

Nêu gương về phương pháp và phong cách làm việc khoa học, cẩn thận, chu đáo, lãnh đạo và quản lý dựa trên các chuẩn mực dân chủ, khoa học, luật pháp, kỷ cương và gương mẫu về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Trong công việc, Người luôn yêu cầu: “Đi sâu, đi sát, điều tra, nghiên cứu” nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể; có mục đích rõ ràng, cẩn thận; chương trình kế hoạch đặt ra phải chi tiết, sát hợp, chu đáo; kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng; cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng điểm, có điển hình và toàn diện. 

Người cho rằng, trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, nên không được làm trái ý dân, mà phải phát huy dân chủ, dân chủ là động lực của sự phát triển tiến bộ; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Cần nâng cao ý thức và năng lực thực hành dân chủ của người dân, luôn đảm bảo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Nêu gương ứng xử tinh tế, thực hành lối ứng xử thấm nhuần văn hóa khoan dung. Trong phong cách nêu gương, Người đặt ra nguyên tắc thực hiện: Trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư), đã phụ trách việc gì thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, không sợ khó khăn, gian khổ, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Thực hiện “chí công vô tư” và “nói đi đôi với làm”. Gương mẫu là mệnh lệnh không lời. Người chủ trương: “Lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy, cô giáo là tấm gương cho học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người cán bộ, đảng viên chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.
Phong cách nêu gương của Người như là một lẽ tự nhiên, thấm nhuần trong tư duy và hành động, là nét văn hóa điển hình trong lãnh đạo và quản lý, trong giao tiếp và ứng xử của Người. Có thể khái quát trên những nét chính sau:

Nêu gương về mục đích và lý tưởng sống. Người tâm niệm về người phương Đông luôn coi trọng tình cảm và đạo đức, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính vì thế, trong suốt cuộc đời mình, Người luôn tự trau dồi, học hỏi, tự rèn luyện để phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và vì đồng bào. Người chỉ dạy cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là “chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu cho cấp dưới, cho nhân dân và cho thế hệ trẻ noi theo. Đó là gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau. Người luôn nhắn nhủ thế hệ trẻ tương lai của dân tộc rằng “Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân”; “Trên vì nước, dưới vì nhà. Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”. Tuổi trẻ phải không ngừng được vun đắp lý tưởng, hoài bão để tiếp nối sự nghiệp vẻ vang mà cha ông đã để lại.

Nêu gương về thái độ khiêm tốn, cầu thị, sâu sát và rút kinh nghiệm thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng và chế độ một tấm gương mẫu mực và ngời sáng về tinh thần cầu thị, khiêm tốn, nhã nhặn, đặc biệt là thái độ học hỏi, cầu thị với nhân dân và với cấp dưới của mình. Người đặt vấn đề cho cán bộ, đảng viên phải là những người “đi trước thiên hạ, vui sau đồng bào”; phải thực hiện tác phong “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, phải cẩn thận mà nhanh nhẹn kịp thời, làm đến nơi đến chốn. “Sau mỗi việc cần phải rút kinh nghiệm... Mỗi cán bộ, mỗi địa phương sẽ học những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới”. Phải thường xuyên chú ý rút kinh nghiệm, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm căn cứ để công việc luôn đúng đắn và phù hợp, đồng thời phải coi trọng tổng kết thực tiễn.

Nêu gương thực hành đoàn kết, tôn trọng nhân dân, nêu cao tinh thần đại nghĩa trên cơ sở bình đẳng, hướng tới đồng thuận, nêu cao đồng tâm, đồng ý, đồng chí, đồng lòng để đồng hành, đưa sự nghiệp cách mạng vượt qua mọi gian nan thử thách, hy sinh đi tới thắng lợi. Trong thực hành chức trách tương tác đối với nhân dân thì phải biết yêu dân, thương dân, kính dân, trọng dân, gần dân gắn liền với tinh thần phục vụ dân để mỗi người dù là cán bộ hay người dân thường thì trên dưới, trước sau, trong ngoài đều phải có ý thức tôn trọng nhau để làm việc hiệu quả và bền lâu.

Nêu gương về phương pháp và phong cách làm việc khoa học, cẩn thận, chu đáo, lãnh đạo và quản lý dựa trên các chuẩn mực dân chủ, khoa học, luật pháp, kỷ cương và gương mẫu về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Trong công việc, Người luôn yêu cầu: “Đi sâu, đi sát, điều tra, nghiên cứu” nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể; có mục đích rõ ràng, cẩn thận; chương trình kế hoạch đặt ra phải chi tiết, sát hợp, chu đáo; kiểm tra việc thực hiện của cấp dưới và quần chúng; cụ thể, kịp thời, thiết thực, có trọng điểm, có điển hình và toàn diện. 

Người cho rằng, trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, nên không được làm trái ý dân, mà phải phát huy dân chủ, dân chủ là động lực của sự phát triển tiến bộ; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Cần nâng cao ý thức và năng lực thực hành dân chủ của người dân, luôn đảm bảo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Nêu gương ứng xử tinh tế, thực hành lối ứng xử thấm nhuần văn hóa khoan dung. Trong phong cách nêu gương, Người đặt ra nguyên tắc thực hiện: Trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người, đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (để việc công lên trên, lên trước việc tư), đã phụ trách việc gì thì phải tận tâm, tận lực làm cho kỳ được, không sợ khó khăn, gian khổ, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Thực hiện “chí công vô tư” và “nói đi đôi với làm”. Gương mẫu là mệnh lệnh không lời. Người chủ trương: “Lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong gia đình, cha mẹ có thể là tấm gương cho các con, anh chị là tấm gương đối với các em; trong nhà trường, thầy, cô giáo là tấm gương cho học trò; trong cơ quan, tổ chức thì cán bộ lãnh đạo là tấm gương cho cấp dưới, người này có thể nêu gương cho người khác. Trong cuộc sống hàng ngày, người cán bộ, đảng viên chẳng những phải có trách nhiệm tự tu dưỡng tốt để trở thành con người có đời tư trong sáng mà còn phải là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó làm những điều đúng, điều thiện, chống lại thói hư, tật xấu.


Ngày 12/2/1956 (tức ngày mùng Một Tết Bính Thân), Bác đã đến thăm và chúc Tết toàn thể cán bộ, công nhân Việt Nam và chuyên gia Trung Quốc đang làm việc tại công trường khôi phục cầu Việt Trì. Ảnh tư liệu

Giá trị vận dụng mang tầm thời đại

Hệ thống phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị thời đại, việc học tập và làm theo phong cách nêu gương của Người đã, đang và sẽ góp phần xây dựng hệ giá trị cho con người Việt Nam hiện đại.

Trước hết, cần tiếp tục quán triệt nghiên cứu, làm rõ và vận dụng thực hành phong cách nêu gương theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị và toàn dân. Việc nghiên cứu sâu sắc và tuyên truyền rộng rãi trong đảng viên và nhân dân góp phần nâng cao nhận thức đầy đủ và hành động rèn luyện hàng ngày theo những tác phong có giá trị bền vững mà Người để lại cho dân tộc ta. 

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải tích cực, tự giác học tập, quán triệt, thực hiện tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về nêu gương một cách nghiêm chỉnh, thành tâm, sâu sắc và sáng tạo.
Tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh về nêu gương là tài sản tinh thần vô giá, là sản phẩm của tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, gắn chặt lý luận với thực tiễn; thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của một danh nhân văn hóa thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, một tấm gương mẫu mực, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của dân tộc lên trên hết; một con người tiêu biểu, mẫu mực về phong cách sống thanh cao, trong sáng, giản dị; ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân. 

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh giúp chúng ta có cơ sở khoa học và phương pháp đánh giá, xem xét khách quan, chính xác, thấy rõ hơn nguồn gốc, bản chất, nguyên nhân của tình trạng suy thoái và những biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đồng thời, có định hướng tư tưởng đúng đắn, có thêm ý chí quyết tâm, nghị lực, niềm tin, tạo sức mạnh mới để đấu tranh, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm.

Trong thế giới cái gì cũng biến hóa, trong đội ngũ những người cán bộ, đảng viên của Đảng có nhiều người không ngừng tu dưỡng, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, nên không ngừng trưởng thành tiến bộ, nhưng cũng có một số cán bộ, đảng viên kém tu dưỡng, ngại rèn luyện, không giữ vững đạo đức cách mạng, từng bước sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến thoái hoá biến chất. Người đã phân tích làm sáng tỏ sự khác nhau giữa lợi ích cá nhân chân chính với chủ nghĩa cá nhân, từ đó chỉ ra sự đối lập giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa cá nhân, coi chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù không đội trời chung với chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa cá nhân là “mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư, nết xấu”, “là thứ vi trùng rất độc”, do đó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm. Do vậy, theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân. 

Thứ ba, thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Tự phê bình và phê bình là một hoạt động tự giác của mọi tổ chức Đảng và đảng viên, thường xuyên phải tự phê bình và phê bình; tức là phải tự kiểm điểm, tự phê phán và phê phán, tự chỉ trích và chỉ trích, tự kiểm tra và kiểm tra, tự đánh giá và đánh giá về những ưu điểm, khuyết điểm, sai lầm (nếu có) của mình trong việc nhận thức và hành động theo đường lối, quan điểm, nguyên tắc của Đảng, thể hiện trong việc chấp hành và thực hiện nhiệm vụ đảng viên; lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Trong tình hình hiện nay, một trong những tồn tại và khuyết điểm trong các cơ quan tổ chức là xuất phát từ nguyên nhân thiếu tính “chiến đấu” hoặc không thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết và quyết tâm học tập, làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 18-5-2021, yêu cầu: “cần phải quán triệt, tập trung làm tốt ba nội dung: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên”. Để tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Đảng đã ban hành các quy định về nêu gương: Quy định số 47-QĐ/TW, về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị, về một số việc cần làm ngay để tăng cường trách nhiệm nêu gương. Đặc biệt, ngày 25-10-2018, Trung ương Đảng ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương… nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, rèn luyện phong cách của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Việc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm” trong nội bộ có ảnh hưởng, chi phối trực tiếp đến việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và đạo đức, đặc biệt là ảnh hưởng đến công tác cán bộ. Do đó, cần thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh đó là: Từ công việc để chọn người; phê bình công việc chứ không phải phê bình người; tự phê bình trước, phê bình người khác sau; phê bình là cốt để sửa chữa khuyết điểm và giúp nhau cùng tiến bộ. 

Các cấp ủy, tổ chức Đảng cần xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh. Cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cùng với đó, cần đề cao vai trò gương mẫu của người đứng đầu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đổi mới phong cách làm việc, sâu sát cơ sở. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường “sức đề kháng” nhằm vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động phá hoại tư tưởng, thâm nhập, chuyển hóa, lũng đoạn nội bộ, tha hóa cán bộ Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch. Vận dụng linh hoạt các biện pháp xử lý đối với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; “xây” đi liền với “chống”, nói đi đôi với làm, tạo môi trường thuận lợi phòng, chống có hiệu quả biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Có chính sách động viên, biểu dương, nhân rộng những điển hình tiên tiến, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả. Thường xuyên kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện. Nêu cao tính tự giác, tự phê bình và phê bình, tự soi, tự sửa trong nội bộ các tổ chức đảng và đảng viên. Chú trọng tự nêu gương và nêu gương, nhất là người đứng đầu, kịp thời nhân rộng điển hình tiên tiến, tấm gương người tốt./.


Báo Phú Thọ