ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
  • Cập nhật: 15/12/2018
  • Lượt xem: 1386 lượt xem

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

1. Vị trí địa lý:
Thanh Ba là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Phú Thọ, có tọa độ địa lý trong khoảng 21020’ -  21034’ độ vĩ Bắc và 105005’ - 105014’ độ kinh Đông, có diện tích tự nhiên 19.465,35 ha. 
- Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa. 
- Phía Bắc – Đông Bắc giáp huyện Đoan Hùng.
- Phía Đông giáp huyện Phù Ninh. 
- Phía Tây – Tây Nam giáp huyện Cẩm Khê. 
- Phía Nam giáp huyện Tam Nông. 
- Phía Đông – Đông Nam giáp thị xã Phú Thọ.    
Huyện có 26 xã và 1 thị trấn, trung tâm huyện lỵ là thị trấn Thanh Ba, cách thành phố Việt Trì khoảng 40 km về phía Tây Bắc. Trên địa bàn huyện có các tuyến giao thông chính: Tỉnh lộ 314, 320C, 314B, 314C, 320 với tổng chiều dài khoảng 77 km và 14 tuyến huyện lộ dài khoảng 88 km, tuyến đường thủy trên sông Thao chảy dọc trên địa bàn huyện dài 29,5 km.
Với vị trí đại lý có giao thông khá thuận lợi, nên sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội có nhiều lợi thế như: giao lưu kinh tế - văn hoá, khoa học công nghệ giữa các địa phương trong và ngoài huyện, kết hợp giữa các vùng nguyên liệu sẵn có trong và ngoài huyện với các cơ sở sản xuất công nghiệp (chế biến chè, sản xuất xi măng, gốm sứ, bia rượu…), vận chuyển và trung chuyển để tiêu thụ hàng hóa thuận tiện.
2. Địa hình.
Thanh Ba có diện tích tự nhiên là 19.465,35 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 14.857,73 ha, bằng khoảng 76% tổng diện tích; đất lâm nghiệp 3.585,27 ha; đất chuyên dùng 2.060,45 ha; đất thổ cư 1011 ha. 
Địa hình của huyện Thanh Ba có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam theo hướng ra sông Hồng. Có đủ vùng đồng bằng ở hạ huyện (Lương Lỗ, Đỗ Xuyên, Đỗ Sơn, Thanh Hà); vùng đồi gò - chiêm trũng (Sơn Cương, Chí Tiên, Hoàng Cương, Mạn Lạn, Phương Lĩnh, Vũ Yển, Yển Khê, Hanh Cù, Yên Nội, Thanh Xá) và vùng đồi rừng (thị trấn Thanh Ba, Thái Ninh, Đồng Xuân, Thanh Vân, Đông Lĩnh, Đại An, Năng Yên, Ninh Dân, Võ Lao, Quảng Nạp, Đông Thành, Khải Xuân).
3. Khí hậu, thủy văn.
Huyện Thanh Ba chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ bình quân cả năm 23,20C, trong đó nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,40C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 14,90C. Nền nhiệt độ được phân hoá theo mùa khá rõ rệt, trong năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C (tháng 12 đến tháng 3 năm sau); tổng tích ôn đạt trên 8.5000C. Đây là yếu tố thích hợp cho việc bố trí cơ cấu cây trồng ngắn ngày tương đối đa dạng, đặc biệt đối với một số rau màu thực phẩm ưa nền nhiệt thấp và các loại cây ăn quả nhiệt đới.
- Lượng mưa bình quân hằng năm 1.835 mm nhưng phân bố không đồng đều. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 10, lượng mưa chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7, 8, 9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng. Các tháng 11 đến tháng 4 lượng mưa ít, chiếm 15% lượng mưa cả năm.
- Chế độ thuỷ văn của các sông, ngòi ở Thanh Ba phụ thuộc chủ yếu vào chế độ thủy văn của sông Thao. Từ tháng 4 khi lượng mưa bắt đầu tăng lên thì mức nước sông, ngòi cũng tăng lên và đạt đỉnh vào các tháng 7 và 8, sau giảm dần và kiệt vào tháng 2 hoặc tháng 3 năm sau.
4. Các nguồn tài nguyên.
4.1. Tài nguyên đất
Đất đai của Thanh Ba được chia thành hai nhóm có nguồn gốc phát sinh khác nhau đó là nhóm đất đồng bằng, thung lũng và nhóm đất đồi gò.
Nhóm đất đồng bằng, thung lũng chịu sự chi phối của quá trình tích tụ các sản phẩm rửa trôi, quá trình glây hóa. Trong khi đó nhóm đất gò lại hình thành và phát triển trên nền đá mẹ biến chất, gơnai lẫn pecmatic và phiến thạch mica chịu sự tác động của quá trình Feralictic là chủ yếu.
4.2. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của huyện Thanh Ba được cung cấp chủ yếu bởi 3 nguồn chính là nước mặt, nước ngầm và nước mưa tự nhiên.
- Nước mặt: Có nguồn chính từ các sông, ngòi, ao, hồ, đầm lớn nhỏ phân bố khắp các xã trong huyện với diện tích khoảng 2015 ha. Đây là nguồn cấp nước quan trọng cho sản xuất và đời sống của nhân dân và còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản.
- Nước ngầm: Hiện nay được khai thác chủ yếu cho các ngành công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong toàn huyện thông qua hệ thống giếng đào, giếng khoan. Đối với Thanh Ba đây cũng là nguồn nước tương đối sạch, dễ khai thác và sử dụng khá nhiều. 
- Nước mưa: Với trữ lượng nước mưa trung bình 1.835 mm trong năm, đây là nguồn nước bổ sung cho các ao, hồ đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân. Nước mưa là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các cây trồng lâu năm và rừng có diện tích lớn, địa hình phức tạp, khó tưới nhân tạo.
4.3. Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê đất đai ngày 31/12/2010 diện tích đất lâm nghiệp của huyện có 3.585,27. ha, chiếm 18,4.% diện tích đất tự nhiên. Tài nguyên rừng của huyện có chất lượng không cao, diện tích rừng chủ yếu là rừng trồng mới, rừng tái sinh chưa đến tuổi được khai thác. Trong những năm gần đây, công tác quản lý và bảo vệ rừng được thực hiện khá tốt, nên diện tích rừng của Huyện đang từng bước được phục hồi. Độ che phủ của rừng được nâng lên từ 13,1% năm 1998 lên 24% năm 2010. Rừng hiện đang góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực, hạn chế quá trình xói mòn rửa trôi và ngăn cản lũ. Hoạt động của sản xuất lâm nghiệp về cơ bản đã hình thành được vùng sản xuất hàng hóa từ phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại, nhiều hộ từng bước đi lên làm giàu bằng kinh tế đồi rừng.
4.4. Tài nguyên khoáng sản 
Theo báo cáo kết quả điều tra địa chất, trên địa bàn huyện Thanh Ba, có 16 mỏ khoáng sản và điểm quặng. Nhìn chung trên địa bàn huyện Thanh Ba, tài nguyên khoáng sản phân bố rải rác với quy mô nhỏ, chủ yếu tồn tại dưới dạng điểm quặng và chất lượng không ổn định trong quá trình khai thác. Toàn huyện có 3 loại khoáng sản chính như sau: Than nâu (khoáng sản nhiên liệu), tập trung ở  thị trấn Thanh Ba và 2 xã Ninh Dân (điểm quặng) và Yển Khê (quy mô nhỏ), với trữ lượng khoảng trên 12.000 tấn. Các mỏ và điểm than nâu có giá trị trong phát triển công nghiệp địa phương và góp phần quan trọng trong phát triển các ngành sử dụng than trên địa bàn huyện. Nguyên liệu gốm sứ, thủy tinh, vật liệu chịu lửa, chủ yếu là Kaolin, bao gồm 3 điểm quặng, nằm trên địa bàn 3 xã Thái Ninh, Năng Yên, Yển Khê. Tổng trữ lượng loại quặng này ở cả 3 điểm khoảng 150.000 tấn, các điểm quặng này đều được phát hiện vào năm 1998, 1999, hiện chưa được khai thác. Nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng bao gồm: Đá vôi xi măng, có 2 điểm quặng tại xã Ninh Dân, trữ lượng khoảng 35 triệu m3, 1 điểm tại khu 6 xã Võ Lao đang được khai thác; đá vôi luyện kim có 1 điểm quặng trên núi Thắm – xã Võ Lao với trữ lượng 8 triệu m3, đang được khai thác; Sét gạch ngói, bao gồm 5 mỏ và điểm quặng, phân bố ở các xã Thanh Vân, Đông Thành, Hoàng Cương, Lương Lỗ với trữ lượng khoảng 40 triệu m3.
 5. Nguồn nhân lực: 
Thanh Ba là huyện tương đối đông dân của tỉnh Phú Thọ. Tính đến ngày 30/6/2015 toàn huyện có 32.431 hộ với 182.613 dân. Dân cư huyện Thanh Ba có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động cao là nguồn lực quan trọng bậc nhất cho phát triển KTXH của địa phương.
6. Kết cấu hạ tầng:
       Mạng lưới giao thông, nhất là đường liên huyện, liên xã, liên thôn, đường lên đồi, xuống đồng luôn được mở rộng, tạo ra hệ thống xương sống về giao thông khá thuận tiện. Hệ thống điện, điểm bưu điện văn hoá đã phủ trên diện rộng toàn bộ các khu vực dân cư trên địa bàn huyện, hệ thống nước sạch, công trình vệ sinh đã được quan tâm và đã có những dự án khả thi triển khai thực hiện.
 7. Về tiềm năng du lịch:
Tiềm năng du lịch huyện Thanh Ba phát triển đa dạng các loại hình như: Tuyến du lịch sinh thái mặt nước: Hồ Ba gạc ở xã Ninh dân, hồ Trầm sắt ở xã Đỗ sơn. Tuyến du lịch văn hoá gắn với các lễ hội, làng nghề truyền thống gồm 18 di tích lịch sử văn hoá gắn với các  trò chơi truyền thống, diễn xướng dân gian như: Múa cánh tiên, tục Giằng búa đầu trâu ở xã Chí Tiên, hội Vật ở xã Hanh cù, Đông Thành, hội Cầu giỏ, bơi chải ở xã Lương Lỗ…Hàng năm các lễ hội truyền thống được tổ chức, thu hút đông đảo nhân dân và hàng ngàn du khách về dự.